HEADER-2015cnn 1

Đô thị cổ trên đất Bình Định

2nman5Miếu Bà, một di tích từ đô thị nước mặn

Bình Định với bao thăng trầm từ ngàn xưa cả về yếu tố địa lý cũng như văn hoá, lịch sử…Chính điều đó đã hun đúc trong sâu thẳm con người Bình Định niềm kiêu hãnh ngọt ngào với quê hương, với đất nước, với con người.

Bằng một chút kiêu hãnh nhẹ nhàng ấy, tôi xin kể lại một câu chuyện về một đô thị cổ xa xưa trên đất Bình Định: Đô Thị Nước Mặn.

        Có thể nói đã hơn hai trăm năm trôi qua song ký ức về một đô thị, một thương cảng, quân cảng vẫn còn – Đâu đó ẩn hiện dáng dấp của một thành phố thuở phồn vinh mà các thương nhân nước ngoài đã từng ngưỡng mộ: Đô thị Nước Mặn.

       Đô thị Nước Mặn ở đâu và có tự bao giờ? – Vì sao gọi là đô thị Nước Mặn? – Tồn tại trong bao nhiêu lâu? – Đô thị này lớn hay nhỏ? – Sự sầm uất của nó như thế nào? …Đó là điều mà chúng ta nên nhắc lại và kiêu hãnh.

       Hơn ba trăm năm trước, mực nước biển khá cao tràn ngập cả vùng Phước Thuận, Phước Sơn, Phước Hòa, Phước Quang… cho đến Cát Tiến – Phù Cát ngày nay. Nhơn Hội bây giờ là quần đảo Triều Châu ngày xưa nằm giữa biển – Như một con khủng long khổng lồ trồi lên từ mặt nước xanh mênh mông; Núi Phụng Sơn Phước Sơn bây giờ chính là nơi neo đậu tàu thuyền thuở trước; Dải cát trãi dài theo tuyến đường bộ Cát Tiến – Nhơn Hội ngày nay chính là thương cảng, quân cảng Cửa Thử ngày xưa; Tháp Bình Lâm ngày xưa nằm sát bờ biển. Buổi chiều mặt trời chiếu rọi, bóng tháp trãi dài trên dải cát kề với ngọn sóng lăn tăn ( do vậy tháp Bình Lâm ngày xưa có tên là Dương Biên ).

       Thuở xa xưa cách đây hơn một ngàn năm, khu vực Bình Lâm phía bờ Nam sông Gò Tháp (một nhánh của sông Kôn Nam phái) có một đô thị cổ nhất và lớn nhất của vương quốc Chăm Pa đó là Thành Thị Nại. Có thể nói Thị Nại này là một thành phố phồn hoa nhất trong lịch sử của người Chăm. Nó tồn tại khoảng năm trăm năm và sau đó suy tàn dần, kết thúc vào khoảng giữa cuối thế kỷ XV (1471).

       Sự tồn tại và suy tàn Thành Thị Nại của người Chăm chính là yếu tố manh nha để xuất hiện một đô thị mới của người Việt sau này.

       Phải mất hơn 130 năm sau (1471 – 1600), khoảng đầu thế kỷ XVII một đô thị mới chính thức ra đời và phát triển một cách mạnh mẻ nhanh chóng đó là Đô Thị Nước Mặn.

        Trung tâm đô thị Nước Mặn nằm cách thành Thị Nại xưa không xa (ở bờ Bắc sông Gò Tháp). Có thể nói đô thị Nước Mặn là một thành phố cảng nhộn nhịp, sầm uất nhất khu vực phía Nam thời bấy giờ. Đây là một trung tâm thương mại và là nơi giao lưu phổ cập tôn giáo, văn hóa, văn minh Đông – Tây mạnh mẻ với các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Anh, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Hà Lan…và Đông Nam Á.

       Từ trước đó, để ghi chép lại những địa danh cũng như tính hiệu quả trong việc truyền đạo của các thừa sai Thiên Chúa Gíao, các vị này cùng với những bậc trí thức người Việt đã dần La tinh hoá ngôn ngữ địa phương và đó là tiền đề cho chữ quốc ngữ sau này ra đời.

       Phải mất mấy trăm năm chữ quốc ngữ mới được hoàn thiện như ngày hôm nay tuy nhiên Nước Mặn chính là cái nôi của chữ viết Việt hiện có.

       Cảng thị Thành Thị Nại của người Chăm là cảng biển, cảng thị đô thị Nước Mặn của người Việt là cảng sông với tên gọi Cửa Thử. Những khi triều dâng, nước biển tràn vào khu dân sinh do vậy mà gọi là đô thị Nước Mặn. Từ “thử” ở đây là “thử nghiệm, kiểm tra”. Theo dân gian xưa kể rằng: Ngày xưa nơi đây có chợ rất lớn, người tứ phương đổ về mua bán cả ngày lẩn đêm. Đêm đến, người âm phủ trà trộn với người dương gian và cũng mua bán. Để biết đâu là tiền thật, đâu là tiền âm phủ, các tiểu thương luôn có thau nước bên cạnh để thả đồng tiền vào, tiền chìm là thật, tiền nổi là giả và từ “thử” xuất hiện từ đây. Cửa Thử còn có tên là Kẻ Thử (chợ thử), Cách Thử.

       Trung tâm cảng thị Nước Mặn thuộc khu vực An Hoà ngày nay nhưng chuỗi đô thị thì kéo dài từ Phước Sơn cho đến Đồng Ghe. Đó là một thành phố khá lớn và rất nhộn nhịp. Chiều dài của thành phố khoảng 8km và chiều ngang khoảng 0,8km (sử xưa mô tả dài 5 dặm, rộng 0,5 dặm). Để dễ hình dung: Đô thị Nước Mặn ngày xưa có chiều dài tương đương từ Cầu Đôi thành phố Quy Nhơn cho đến cuối đường Trần Hưng Đạo và bề rộng từ đường Trần Hưng Đạo ôm hết qua đường Hoa Lư và đường Đống Đa bây giờ. Sự giàu có sầm uất của đô thị này thể hiện qua câu ca xưa:

Tôi yêu một thuở quê nhà

Có cảng Nước Mặn thuyền ra ghe vào

Phố phường ngang dọc xôn xao

Hàng đồng, hàng mã, hàng nhào, trầm hương

Lụa là vải vóc mười phương

Tàu buồm chở tới, khách thương mua về…

Đổi dời: thương hải – làng quê

Biển lùi, sông lấp thuyền ghe đâu còn?

Thế rồi! phố vắng, chợ tan…

Ngẩn ngơ trông ngọn sóng tràn biển xanh.

Thật là một đô thị không nhỏ tí nào! Thật luyến tiếc và cũng thật kiêu hãnh!

Theo dân gian xưa kể rằng: Vào một đêm nọ năm Dậu, một tiếng nổ vang trời, sáng hôm sau Cửa Thử bị lấp, tàu thuyền không vào được và năm tháng trôi qua biển xanh đã trở thành dải đồi cát trắng. Đô thị Nước Mặn dần trôi vào quên lãng.

Đô thị Nước Mặn đã tồn tại và phồn vinh trong suốt hơn một trăm năm mươi năm (đầu thế kỷ XVII- giữa cuối thế kỷ XVIII). Một đô thị đã tạo ra biết bao giá trị văn hoá, văn minh ảnh hưởng rộng khắp từ Nam đến Bắc và vẫn còn lan toả cho đến ngày nay.

Sau khi Cửa Thử bị lấp, đô thị Nước Mặn suy tàn, dân bản xứ phải toả đi khắp nơi để làm ăn mua bán. Hằng năm vào những ngày lễ hội Chùa Bà cuối tháng giêng, nó như một điểm hẹn để người xa quê trở về thăm lại cố hương, gặp lại những người xưa nở những nụ cười và ôn lại những câu chuyện năm tháng.

“Nước Mặn” không thể đi vào quên lãng !

Tuy Phước, ngày 10/03/2013

KTS. Đào Tùng

(Hội kiến trúc sư Bình Định)

(Có tham khảo tài liệu của các bậc thầy Quách Tấn, Đỗ Bang, Nguyễn Tấn Hiểu, Nguyễn Văn Hiển, Nguyễn Xuân Nhân và một số tài liệu uy tín khác.)

 

   

 

        

 

 

 

       

logo-kvn
logo sxd

lamson2015
phucloctho3

lachong chuan

FACEBOOK HỘI